Thua Thái Lan, kém Ấn Độ, giá gạo Việt thấp nhất gần 12 năm

Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ gạo hạn chế do thị trường toàn cầu đang bị ảnh hưởng bởi thương mại, suy thoái. Giá gạo của Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam có mức chênh lệch không nhỏ, trong đó gạo Việt đứng "bét bảng" với mức giá thấp nhất trong vòng 12 năm qua.

Xuất khẩu giảm 9,8%

Theo thông tin mới nhất từ Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT): Khối lượng gạo xuất khẩu 9 tháng đầu năm ước đạt 5,2 triệu tấn, tương đương 2,24 tỷ USD, tăng 5,9% về khối lượng nhưng giảm 9,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Philippines hiện đang đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam với hơn 36% thị phần.

Trong tháng 9, trên thị trường thế giới, giá gạo xuất khẩu Ấn Độ tăng nhờ đồng Rupee hồi phục. Đồng Baht tăng trở lại giúp giá gạo Thái Lan ổn định ở mức cao trong gần 1 năm qua và đắt hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác ở châu Á. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ ảm đạm giữ giá gạo Việt Nam ở mức thấp gần 12 năm.

Hiện, giá gạo đồ 5% tấm Ấn Độ tăng từ 366 – 374 USD/tấn lên 373 – 379 USD/tấn. Gạo 5% tấm của Thái Lan giảm từ 410 – 422 USD/tấn xuống 400 – 418 USD/tấn. Đáng chú ý, gạo 5% tấm của Việt Nam giảm từ 325 – 330 USD/tấn xuống 325 USD/tấn.

Tại thị trường nội địa, trong 9 tháng đầu năm, giá lúa trong nước cũng diễn biến theo xu hướng giảm. Mức giảm là khoảng 600 – 800 đ/kg đối với lúa thường IR50404 và 100 – 200 đ/kg đối với lúa chất lượng cao.

Cụ thể, lúa IR50404 tại An Giang giảm từ 4.750 đ/kg (mức cao nhất trong 9 tháng) xuống 4.000 đ/kg (hiện nay). Tại Vĩnh Long, giá giảm từ 4.800 đ/kg xuống còn 4.200 đ/kg. Lúa chất lượng cao tại Bạc Liêu giảm từ 5.000 – 5.400 đ/kg xuống còn 5.000 – 5.300 đ/kg.

Nhu cầu thấp, thị trường bế tắc

Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản dự báo: Thời gian tới, thị trường xuất khẩu gạo bế tắc, thiếu vắng nhu cầu khiến giá lúa gạo trong nước có thể giảm nhẹ.

Trong tháng 9, chính phủ Phillipines cho biết sẽ cân nhắc sử dụng đa dạng các biện pháp phi thuế, như yêu cầu nghiêm ngặt về vệ sinh và kiểm dịch thực vật để điều chỉnh hoạt động nhập khẩu gạo.

Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp Phillipines cũng đang đề xuất áp thuế tự vệ đối với nhập khẩu gạo, dự kiến sẽ không thấp hơn 30%, do quy định trong Đạo luật Cộng hòa số 8800 của nước này có đề cập Philippines có thể áp thuế 30-80% đối với gạo nhập khẩu vượt quá 350 nghìn tấn.

"Như vậy, gạo nhập khẩu vào Philippines ngoài việc phải chịu thuế quan 35%, trong trường hợp nước này đã nhập khẩu quá 350 nghìn tấn, mức thuế phải chịu thấp nhất sẽ là 65%. Điều này có thể trở thành một trong những nhân tố sẽ gây trở ngại cho hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam sang thị trường này trong thời gian tới", Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản nhận định.

Bên cạnh những thách thức nêu trên, một số chuyên gia cho rằng, xuất khẩu gạo thời gian tới vẫn có những cơ hội khả quan từ các thị trường như Singapore và Mỹ.

Đó là bởi, đứng trước tình hình hạn hán nghiêm trọng ảnh hưởng đến sản lượng gạo của Thái Lan, Singapore – quốc gia thường xuyên nhập khoảng 30-40% gạo từ Thái Lan đang xem xét chiến lược đa dạng hóa nhập khẩu từ các nguồn khác. Cơ hội tiếp cận thị trường gạo Singapore sẽ mở ra với các quốc gia, đặc biệt là Việt Nam và Campuchia, các quốc gia trong cùng khu vực Đông Nam Á, có lợi thế giao thương cùng với Singapore.

Ngoài ra, Nhật Bản – quốc gia thường xuyên nhập khẩu 50% gạo từ Mỹ đang xem xét chuyển hướng sang nhập khẩu gạo từ các quốc gia ký kết Hiệp định Đối tác Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), trong đó có Việt Nam.

Xung quanh câu chuyện xuất khẩu ngành lúa gạo, bắt nguồn từ góc độ xuất khẩu nhiều về lượng mà giá trị đem lại không tương xứng, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh: Về lâu dài, chiến lược hướng đến là giảm diện tích trồng lúa, không thể giữ diện tích như hiện nay, chuyển đổi sang các đối tượng nuôi trồng, sản xuất khác hiệu quả hơn.

"Hiện nay, các cơ quan nghiên cứu, quản lý đang tổng hợp để đề xuất. Chúng ta vẫn giữ vững an ninh lương thực và xuất khẩu một phần phù hợp. Về thị trường xuất khẩu cần thúc đẩy, mở rộng các thị trường khu vực châu Phi, Trung Đông; những thị trường có khoảng cách địa lý gần như Indonesia, Philippines...", Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nói.

8 tháng đầu năm 2019, giá trị xuất khẩu gạo trắng chiếm 47,0% tổng kim ngạch; gạo Jasmine và gạo thơm chiếm 39,8%; gạo nếp chiếm 7,2%; và gạo japonica, gạo giống Nhật chiếm 5,7%. Các thị trường xuất khẩu gạo trắng lớn nhất của Việt Nam là Phillipines (52,2%), Cuba (13,1%) và Malaysia (12,9%). Với gạo Jasmine và gạo thơm, thị trường xuất khẩu lớn nhất là Phillipines (25,9%), Bờ Biển Ngà (15,6%) và Iraq (15,3%).

Về gạo nếp, thị trường xuất khẩu lớn là Trung Quốc (51,8%), Phillipines (18,7%) và Malaysia (9,8%). Với gạo Japonica và gạo giống Nhật, thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Singapore (24,5%), Ai Cập (9,4%) và Papua New Guinea (8,4%).

http://vinanet.vn/nong-san/thua-thai-lan-kem-an-do-gia-gao-viet-thap-nhat-gan-12-nam-718743.html

 

Tin miễn phí